Vndichlyhoi’s Weblog

ĐẠI CHÚNG HOÁ LỊCH SỬ

Posted in Dich Lý Báo Tin by vndichlyhoi on September 28, 2008

NHÂN DÂN VIỆT NAM

(Tóm lược Tài liệu học tập dành cho lớp Tiên Ðồng Ngọc Nữ)

Ý thức cho rõ :

1. Con người Việt Nam trên hiện thân xã hội loài người cận đại.

2. Vũ Trụ Lịch tức Lịch Số.

3. Lịch sử oai hùng.

4. Việt ngay gian tính tình, nguỵ mà không nguỵ.

5. Ðạo Cực Võ Văn, khởi thịnh Văn Vő hoá thành bông trái của Thiên Ðịa Quỷ Thần, tức là Việt Nam khai mở Kỷ nguyên mới.

Kỷ nguyên Liên Hành Tinh nói :

Thời đại nhân loại đổ bộ nguyệt cầu và thám hiểm các hành tinh khác, có nghĩa là :

Thời nay nhân loại bước vào : Vũ Trụ Ðạo.

Thời nay nhân loại bước vào : Vũ Trụ Ngữ.

Thời nay nhân loại bước vào : Khoa Học Tổng Tập Nhân Thế.

Thời nay nhân loại bước vào : Trí Tri Cơ Cấu.

Thời nay nhân loại bước vào : Nhịp Cầu Huyền Vi Hiển Hiện Và Cảm Thông Tiếng Nói

Của Muôn Loài Vạn Vật (= Âm Dương Lý).

Nhân dân Việt Nam được và bị trải qua trong vũ trụ vô hữu không thời gian , được và bị sống động trong không thời gian chung cùng liên hệ trong Vũ Trụ Vô Hữu Biến Hóa.

Không thời gian là một cùng lúc chung cùng, :

Không gian : khắp mọi nơi, bao trùm thời gian.

Thời gian : mọi thời lúc, mốc đo không gian : thời điểm quy ước.

Không thời gian Xã hội loài người :

Tính không gian = phương hướng.

Tính thời gian = Lịch số (quy ước)

· Sự thật : Không gian đâu, thời gian đó.

Ðể đa số dễ nhận thức, ta tạm phân thời gian và không gian mà nhân dân Việt Nam được và bị sống động trải qua :

Không gian : trên hành tinh địa cầu nhân loại ở miền đông phương châu Á.

Thời gian : 1200 năm cận đại.

1. 1200 năm cận đại trong vũ trụ vô hữu biến hoá, trong xă hội loài người, trong dân tộc Việt Nam :

Vũ Trụ Lịch từ 3102 – 4251 (tức Giáp Dần)

Phật Lịch từ 1369 – 2518(tức Giáp Dần)

Chúa Lịch từ 825 – 1974(tức Giáp Dần), hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm)

2. Trong khoảng thời gian vừa kể trên :

Tùy theo thời lúc, địa phương nhân dân Việt Nam được và bị gán danh : Việt ngay, Việt gian, thực dân, nô lệ, sùng ngoại, vong bản, ngụy này, ngụy kia …

Danh tánh được gán có hơi khác nhau (dị) về ngôn xướng nhưng cùng để diễn tả ý nghĩa xấu xa (đồng) vì :

Nhân dân Việt Nam chưa có nêu lên, trình bày rõ chủ trương, chủ xướng bằng như không có chủ trương, chủ xướng. Chỉ chạy theo, được và bị a dua, a tòng theo, ăn làm theo, bắt chước theo, động tĩnh theo kiểu Ðạo Tùy. Ðược và bị sống chết theo kiểu chủ trương, chủ xướng vững mạnh của người nước ngoài bằng như sống cho kẻ khác, dân tộc khác, tiếp tục trung thành triệt để cho người nước ngoài, tiếp tục nhắm mắt, nhắm mũi ca ngợi người nước ngoài vĩ đại.

Ðó là sự sống động chung cùng liên hệ trên hành tinh địa cầu nhân loại (giữa người Việt Nam và người nước ngoài). Tức như đang còn giả bộ sống cho chủ nghĩa, chủ trương của Tàu Tây Nga Mỹ Nhật v.v…

Dĩ nhiên có văn hóa vong nô, sùng ngoại, lai căn, lẽ tất nhiên rơi vào các thời kỳ :

3. Các thời kỳ mà nhân dân Việt Nam được và bị gán danh Ngụy (1200 cận đại) :

a/ Thời gian Tàu đô hộ và chi phối : 1042 năm.

Vũ Trụ Lịch từ 3102 – 4144

Phật Lịch từ 1369 – 2411

Chúa Lịch từ 825 – 1867, hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm)

· Tàu : đời Ðường, Hậu Lương, Hậu Ðường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, Tống, Nguyên, Minh, Thanh song song với các triều đại :

· Việt Nam : Ngô, Ðinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, lệ thuộc Minh, Hậu Lê, Trịnh Nguyễn phân tranh, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức.

Thời lúc ấy nhân dân Việt Nam chưa có chủ trương, chủ nghĩa mà nêu lên, cho nên đă được và bị ảnh hưởng văn hóa Tàu trên 1000 năm : thời Ngụy Tấn, Hán, rợ Mông cổ …

· Văn chương : kính cẩn khom lưng thâu thập tinh hoa văn hóa nước ngoài để góp chút công đức trong việc củng cố nền văn hóa vong nô sùng ngoại, văn hóa ngụy.

· Môn phái võ : sang Việt Nam âm thầm và công khai.

Người Việt Nam được và bị động tĩnh theo chủ trương, chủ xướng của Tàu (Tàu đô hộ Việt Nam, các vua chúa Việt Nam lo triều cống thích thú và bất đắc dĩ để trọn nghiệp hát bội, hát chčo trong giai đoạn)

Sự thật, phải lựa chọn cái khéo, rồi chế biến thành cái hay cho dân tộc.

Trong và sau thời gian này, nhân dân Việt Nam được và bị gán đủ thứ danh : Việt gian, Việt ngay, Việt cong lưng, khúm núm, Ðường ngụy, Lương ngụy …

Kế đó, người Tàu bèn san sẻ, chia nhượng, chia chác quyền lợi, trao đổi hàng hóa xứ Ðông Dương, trong số đó có Việt Nam, cho người Pháp. Những con người Pháp văn minh vĩ đại, kinh khủng, rùng rợn đến xâm lăng, xâm lấn các dân tộc thiểu số đông phương châu Á.

ă/ Nước Việt Nam được và bị hóa thành ra là thuộc địa mới của Pháp.

Vũ Trụ Lịch từ 4144 – 4221

Phật Lịch từ 2411 – 2488

Chúa Lịch từ 1867 – 1944, hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm)

Nhằm thời Tự Ðức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Ðồng Khánh, Duy Tân, Thành Thái.

Người Pháp nhập cảng đạo Thiên Chúa, văn hóa trữ těnh, ướt át, bay bướm, triết lý cá nhân chủ nghĩa.

Người Việt Nam trịnh trọng đón nhận hoặc tương kế tựu kế gě đó để đón nhận máy móc, vũ khí.

Pháp giết người Việt Nam hay ho, tài tình và khiếp đảm như vậy. Có thấy bao nhiêu phong trào chống Pháp, kháng chiến bị văn minh giết người của Pháp vùi dập tơi bời không ? Pháp dạy cho người Việt bắn súng giết người, hại người Việt Nam và giết cả người Pháp, đào tạo trí thức nô lệ.

Trong và sau thời gian này, nhân dân Việt Nam được và bị gán danh : Tàu ngụy, Pháp ngụy.

â/ Nhật khuynh đảo Pháp ở Việt Nam.

Vũ Trụ Lịch từ 4221 – 4222

Phật Lịch từ 2488 – 2489

Chúa Lịch từ 1944 – 1945, hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm).

Nhằm thời Khải Ðịnh.

Người Nhật mang theo Thiền đạo, Nhu đạo, Trà đạo, Thần đạo …

Trong và sau thời gian này, nhân dân Việt Nam được và bị gán danh Nhật ngụy và có câu “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”.

b/ Nhật chia chác quyền lợi xứ Ðông Dương cho Mỹ, Anh, Pháp, Nga.

Pháp công khai trở lại đô hộ Việt Nam. Mỹ tham gia ngấm ngầm ở bên trong hậu trường tà loạn ác độc và Nga Chệt cũng manh nha tham gia rầm rộ.

Thời kỳ Pháp ngụy bộ mặt mới :

Vũ Trụ Lịch từ 4222 – 4231

Phật Lịch từ 2489 – 2498

Chúa Lịch từ 1945 – 1954, hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm).

Thời Khải Ðịnh, Bảo Ðại, Ngô Ðình Diệm với Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu với Tôn Ðức Thắng.

Người Việt Nam còn bị và được nhập cảng văn hóa, văn minh tây phương lần thứ hai do Nga Mỹ mang đến. Dĩ nhiên lần này cực kỳ tinh vi, gian dối hơn, tàn bạo ác độc hơn, tối tân, man rợ hơn với những chiêu bài Ðại đồng, Vô thần, Hữu thần, Tư bản, Cọng sản, Vô sản, Hữu sản. Các học thuyết ngu si Karl Marx, Lenine, Paul Sartre, Hegel, Engel, Kant, Descartes, Camus, Heideyger.(Heidegger). Các tôn giáo Thiên chúa, Tin Lành, Bahai, đạo Dừa … để đầu độc cùng với những xảo ngữ khôngh bao giờ thực hiện và cũng chẳng làm sao thực hiện được như : Dân làm chủ (dân cóc có làm chủ), Tự do (dân cóc có tự do).

Họ dạy bắn súng tốt, bắn súng giỏi (bắn người Việt Nam và cả ngoại bang)

4.- Phải chăng kiếp người Việt Nam chúng ta là Việt gian mà không Việt ngay, Việt cong mà không Việt thẳng ?!

Ðáp :

Có Việt ngay mà cũng có Việt gian rất đúng lúc. Trong âm dương đức tính ngụy ấy lại có Việt tính nhiều Ngụy tính ít và Ngụy tính nhiều Việt tính ít. Chính nghĩa nhân dân, dân tộc vốn sẵn có trong lòng dân tộc Việt Nam, được lưu dấu, lưu truyền và sẽ vùng lên thật hùng mạnh khi có chủ trương, chủ xướng, chủ nghĩa rõ rệt, đúng lúc.

Cho tới bao giờ nhân dân Việt Nam mới hết bị và được gán danh Nguỵ này, Nguỵ kia, Nguỵ nọ ? Cho tới bao giờ nhân dân, dân tộcViệt Nam mới có chủ trương, chủ xướng cho thật rõ rệt ?

Xin trân trọng đáp rằng : Đã hết thời Ngụy rồi. Tại sao ?

· Ðã cùng cực Ngụy, không thể nào và không làm sao mà ngụy hơn được nữa (đầy đủ mặt ngụy rồi).

· Thời kỳ đúng lúc nhân dân, dân tộc Việt Nam trở về nguồn (thời chán ngấy chạy theo chủ trương, chủ nghĩa của ngoại bang, bớt động tĩnh theo kiểu giao mạng, ỷ lại). Đồng thời ngoại bang chán ngấy nhân dân Việt Nam vì đã đến thời nhân dân Việt Nam có chủ trương, chủ xướng rő ràng thuộc văn vő, đã công khai tuyên bố khắp cùng cả nhân loại.

· Nhân dân Việt Nam phải có ngày nay như thế mới được.

· Thời Việt Nam Kỷ Nguyên Mới với 09 Phân Khoa đáp ứng đúng lúc và đúng nhu cầu nhân loại khoa học ngày nay : Văn Vő.

· Nhân dân Việt Nam cần phải biết giá trị của nhân dân Việt Nam đă chịu đựng cho nhân loại trong truông Võ Văn xâm lăng như sau :

Trung Hoa :

Một xứ đất rộng người đông bậc nhất trên hành tinh địa cầu nhân loại, đã bị Bát Quốc Liên Quân, tức là 8 nước liên kết quân đội lại, vây đánh. Và gần đây vấn đề Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông : đó là vấn đề Á Âu Âu Á (da trắng đánh da vàng).

Việt Nam :

Cũng trong truông da trắng đánh da vàng :

· Mượn da vàng làm công cụ.

· Mượn danh từ Cọng sản, Tư bản để phỉnh gạt giết hại hơn 10 triệu sinh linh người Việt trong 30 năm qua.

· Sự giết người tàn bạo quá lâu dài và xúi giục cho người Việt Nam đánh giết lẫn nhau : vấn đề Á Âu Âu Á.

Vài chục quốc gia, chạy theo chủ trương của Tàu Tây Nga Mỹ, a tùng vào việc giết hại người Việt. Vài chục nước liên hệ chứ không phải 8 nước liên kết quân sự.

Chí khí hùng mạnh của Việt Nam đă chịu đựng.

+ Sự kiện đó, hiện tượng đó được ví như biển cả văn minh vật chất tây phương (Tàu Tây Nga Mỹ) đem văn minh Võ Văn giết người và đă giết người Việt Nam về tới tận sông rạch khe nguồn tại lòng đất Việt Nam ở Phương Ðông châu Á suốt dọc từ Nam chí Bắc : giá trị Việt Nam, xương máu trí não.

Chính thời lúc đó, ngay tại lòng đất Việt Nam nhỏ bé lại được và bị đạo Thiên Ðịa Cực (Âm Dương Dương Âm Cực) là lý do khiến cho có vấn đề Việt Nam đáp ứng đúng lúc, đúng nhu cầu nhân loại là khai mở Kỷ Nguyên Mới, khôi phục nền văn minh Âm Dương Học Ngàn Xưa : Văn Minh Âm Dương Rồng Tiên.

+ Sự kiện này, hiện tượng này được ví như biển cả văn minh đông phương đă vươn lên, tinh thần đông phương khởi sáng trở lại tại lòng đất Việt Nam. Tức là Việt Nam khai nguyên văn minh Văn Vő, từ đó tự nhiên đổ ngược trở về tới các sông rạch khe nguồn của bất kể quốc gia nào trên hành tinh địa cầu nhân loại, bất kể Á Âu.

5.- Chủ trương Việt Nam đã rő rệt.

+ Người Việt Nam khai mở Kỷ nguyên mới đánh dấu Võ Văn CựcVăn Vő khởi, chính là nhân dân Việt Nam làm cái việc : khôi phục Văn Minh Âm Dương Rồng Tiên. Sáng tạo, sáng tác 09 Phân khoa Quốc tế Nhân loại (văn minh Văn Vő khởi thịnh do dân tộc Việt Nam khởi xướng).

Từ nay đã rő rệt, Việt Nam có chủ trương, chủ xướng, sinh động, gợi ý, hướng dẫn, học tập 09 Phân Khoa cho nhân dân Việt Nam trước tiên (hợp tình) và cho nhân loại học hỏi kế đó (hợp lý).

Nếu muốn sẽ được học hiểu biết thật rő ràng Chân Lý muôn đời, nuôn nơi và mãi mãi để xă hội loài người biết động tĩnh, tiến thoái khá hay ho và theo kịp đà tiến thoái của vũ trụ vô hữu không thời biến hóa hóa thành trên hiện thân xã hội loài người.

TÓM TẮT

Tóm lại, Kỷ nguyên mới do dân tộc Việt Nam đă khai mở từ năm Ất Tỵ đến nay là năm Giáp Dần :

Vũ Trụ Lịch từ 4242 – 4251

Phật Lịch từ 2509 – 2518

Chúa Lịch từ 1965 – 1974, hội Ngọ kỳ này (1 hội = 10800 năm).

Một khi đă gọi là Kỷ nguyên cần phải hiểu rằng : loài người sống động trong vũ trụ vô hữu như một loài cây hoa sống động trên mặt đất, cứ hễ tới mùa thì nó bị và được trổ sinh.

Vậy Kỷ nguyên mới được ví như bông trái mới của nhân loại đă trổ sinh, tức là bông trái của mọi người chứ không phải của riêng ai cả, không riêng cho dân tộc nào cả.

Vậy Kỷ nguyên mới là âm dương tú khí của vũ trụ vô hữu trên hiện thân của nhân loại đă trổ sinh tự nhiên tại Việt Nam, đông phương châu Á trên 10 năm nay rồi.

Bông trái của Kỷ nguyên mới gồm 09 Phân Khoa Quốc Tế Nhân Loại.

Nhân loại được dân tộc Việt Nam cung ứng cho những sở học tân kỳ độc đáo vượt qua mặt tất cả mọi học vấn xưa nay, bất kể đạo lý khoa học nào.

Là thời của Kỷ nguyên Liên Hành Tinh.

Thời nay nhân loại bước vào : VŨ TRỤ ÐẠO.

Thời nay nhân loại bước vào : VŨ TRỤ NGỮ.

Thời nay nhân loại bước vào : KHOA HỌC TỔNG TẬP CỦA LOÀI NGƯỜI.

Thời nay nhân loại bước vào : TRÍ TRI CƠ CẤU.

Thời nay nhân loại bước vào : NHỊP CẦU HUYỀN VI HIỂN HIỆN VÀ CẢM THÔNG TIẾNG NÓI CỦA MUÔN LOÀI VẠN VẬT (= Âm Dương Lý).

Dù muốn dù không thì trên hiện thân xã hội loài người cũng đă trổ sinh như thế. Tại lòng đất Việt Nam, đă có vấn đề nhân loại như vậy. Dân tộc Việt Nam tính sao đây ? Phải làm gì đây trong kiếp sống làm người Việt Nam khi đi ngang qua, trải qua trên hành tinh địa cầu nhân loại ?

Lưu ý :

Khả năng sản xuất sáng tạo kể như đã xong. Còn lại chỉ có vấn đề thời gian để xuất cảng và nhập cảng vào những quốc gia nào cần đến những phân khoa kỷ nguyên mới đó và chúng ta sẽ kết nghĩa đồng minh.

Mặc dù chúng ta, dân chúng, dân tộc Việt Nam, không cần ai tin theo, nghe theo, chạy theo hay làm theo gì cả, nhưng khắp trời Á Âu đã tự ý hành động rầm rộ học ngôn ngữ Việt từ trung đến đại và cao học mà chúng ta không có quyền gì cấm cản họ được.

Hiện tượng đó có nghĩa là nhân loại đã mặc nhiên chấp nhận và cất bước vào Kỷ nguyên liên hành tinh. Học ngôn ngữ Việt tức cất bước để rồi sẽ học hiểu cho được về 09 phân khoa của Việt Nam sáng tạo và chủ xướng.

VIỆT NAM DỊCH LÝ HỘI

1974

vndichlyhoi@yahoo.com

Advertisements

Khoa Học Dự Báo

Posted in Dich Lý Báo Tin by vndichlyhoi on June 15, 2008


Hay Dịch Lý Báo Tin

Vấn đề Dự báo thường được dùng dưới nhiều danh từ khác nhau : Dự đoán , Tiên đoán , Quyết đoán … Và để thực thi Sự việc này con ngườI cần có những điều kiện khả dĩ mang tính Khoa học Khách quan ; nó tuỳ thuộc vào Trí tri Ý thức được Tu tập rèn luyện của mỗi con người . Ở đây tạm liệt kê những Điều kiện cho một Dự đoán nghiêm túc nhất :

1.- Xác định Dữ kiện trong một Phạm vi Tình Lý nào đó .

2.- Quan sát , nhận xét Dữ kiện cùng với thời động và cơ động .

3.- Xử dụng một Phương pháp chính lý toàn diện và chính xácở mọi nơi mọi lúc bất kể không thời gian .

Để đáp ứng những Điều kiện nêu trên buộc Trí Tri Ý của Con người phải Tìm đến những gì Tận cùng của nó ; nghiã là phải biết Thắc mắc , phải biết Truy nguyên hay Hoàn nguyên để giải đáp cho chuỗi thắc mắc tại sao ấy ; bởi vì Văn bất tận Ngôn ; Ngôn bất tận Ý , Ý bất tận cùng kỳ Lý .

Vậy Lý ấy là Lý lẽ nào mà tự thân nó lại đúng ở khắp mọi nơi mọi lúc ,lạinhư nhiên tự nhiên không khiêm cưỡng cho Trí Tri Ý Thức ?

Văn minh Khoa học ngày nay cũng chưa thể thoả mãn những điều kiện này !

Văn minh Cổ Đại cũng quá nhiều dị biệt hay mai một chẳng hạn như :

* Đông Y Học thật khó trả lời với câu hỏi Ý Lý căn cứ vào Ngũ Hành ! Vậy Ngũ hành từ đâu mà có ? Tại sao có ?

* Tử Vi Học căn cứ vào Các Sao an vị , Thiên bàn Điạ bàn … ; Tại sao có các sao , cách biến thông ý nghiã các sao theo phương pháp nào , quy luật nào ? Tại sao có 12 cung ? Tại sao có Lục Thập Hoa Giáp ? Tại sao mỗi sao có tính Ngũ hành ? v.v…

* Bói Dịch cũng vậy ; Tại sao có Thái cực ,Lưỡng Nghi , Tứ tượng,Bát Quái ,64 Tượng ? Căn cứ và cách biến hoá lý lẽ biến hoá nào ? v.v…

Tất cả những Vấn nạn trên Dịch Lý Việt Nam phải giải quyết và đã giải quyết ; Hội Dịch Lý Việt Nam đã khai mở Kỷ Nguyên Mới khởi từ năm 1965 để Đại Chúng Hoá Văn Minh Dịch Lý Việt Nam .

VIỆT NAM DỊCH LÝ HỘI

Phân Hội Đức Quốc kính cáo .

TẠI SAO HỌC DỊCH LÝ VIỆT NAM ?

    1. Thắc mắc Tại sao là nguyên tắc khởi đầu của Dịch Lý Việt Nam .
      • Con người Dựa vào chính Trí óc , Giác quan của mìnhđể nhận biết Vạn vật chung quanh mìnhvà luôn luônthắc mắc , Sự thắc mắc đã khởi từthuở sơ sinh .
      • Thắc mắc và biết thắc mắc là đông lực phát triển Tri thức ,thành quả của một nền Văn minhlàkết quả chung góp của nhiều nhân tố biết Thắc mắc .
      • Nhờ có Thắc mắc con người biết khám phá ,biết Đặt tên,biết kiểm nghiệm , biết diễn tả , biếtquy kết ,biết trao đổi ,biết đồng ý , biết phản đối ,…Biểu tượng , Chữ viết ,Lý thuyết , Triết thuyết … khởi từ đó .
    2. Vậy Con người trong quan điểm Dịch Lý như thế nào ?
      • Con người là một hiện thực sống động có Trí tri riêng của nóbiết Thắc mắc về chính nó và mọi thứ loạichung quanh nó .
      • Con người Thắc mắc để tự thấy mình đang dùng chính Lý Trícủa mình để suy tư ,để tự giải đáp dù giải được hay không được ! Ta không thể phủ nhận cái tôi có Lý Trí đã đang và mãi biết thắc mắc , Lý trí lúc mờ lúc tỏ ,lúc u tối lúc siêu tuyệt linh diệu .
      • Con người biết dụng Lý trí chính là lúc nó bắt đầu Truy Nguyên Lý Học , Lý trí biến hóa khôn cùng không hình không ảnh nhưng ta lại khu xử được nó từng giây từng ngày .
      • Như vậy con người có trong nó Thần thức và Đức Thần minh biến đổi biến hoá bình đẳng và như nhiên giống như muôn loài trong Vũ trụ sống động . Thực ra Thần thức trực ngự ở Trí Tri Ýcòn Đức Thần Minh là phần Âm ẩn tàng so với Thần Thức , Đó là Trí Tri Ý Cơ Cấu .
      • Thì ra Con người là một Hoá Thành siêu hợp Giữa Hữu thể Vật chất và Siêu thể Tinh Thầncả hai không thể chia tách , cả HAI là MỘT , Một Âm một Dương cùng lúc chung cùng bất khả phân cùng với cái Hoá thành biến đổi lập tức thời liên tụcliên lỉthành cái Thứ Ba giống mà hơi khác với cái trước nó ; nói cách khác có không thời gian can dự thì Cái tôi hôm nay giống mà hơi khác với cái tôi hôm qua , hay xa hơn cái tôi lúc10 tuối giống mà hơi khác với cái tôi 20 Tuổi hoặc quá quá khác với cái tôi năm 60 tuổi…nhưng tất cả chỉ là một chuỗi giống mà hơi khác với cái trước nó ! Đó là Luật Biến Hóatuân thủ Yếu Lý Biến Hoá Đồng Nhi Dị .
      • Con người cùng Vạn vật trong Vũ trụ , Tự Do Động Tĩnh ,Tĩnh Động trong mộtQuy Luật Động Tĩnh Sống Động .
      • Con người và Vạn loại trong Vũ Trụthời nay nay thời chỉ làSựKết tinh củamuôn thuở Nhân loại và Vạn hữu. Đó là Luật Cấu Tạo Hoá Thành. Cho nên dù muốn dù không Con người và Vạn Hữu đãvàđang thành , đã và đang sống động linh hoạtnhịp nhàng với Luật Thiên Địa Tuần Hoàn , Sinh sinh Diệt diệt ,Tuần tự Trật tự muôn đời và mãi mãi.
    3. Con người với Tri Tri Cơ cấu đã đặt têncho mình và vạn hữuthế nào ? Tại sao phải đặt tên ? Theo Lý nào để Đặt tên ?
      • Vạn vật tự nó vốn không tên , nó chỉ là nó một Biến Hoá Hoá thành của Vũ Trụ đúng như luật Cấu tạo Hoá thành biến hoá biến đổi như nhiên .
      • Con người vì nhu cầu truyền thông đã tự đặt tên cho mình và cho vạn vật .Việc Đặt tên hay Định danh này là do con người làm cho vạn hữu mang danh mang tánh.
      • Dịch Lý không xét quá trình lịch sử của danh tánh vì nó thuộc phạm trù Ngôn ngữ học ; mà là truy tìm lý lẽ của Danh tánh , nghiệm xét Tiền nhânđã đặt tên theo nguyên lý nào , lý lẽ nào ? Và dĩ nhiên không bị lệ thuộc vào hình thức ký tự của Ngôn ngữkhi truy tầm Ý Lý của Danh Lý .
      • Lý Định Danh có diễn tiến như sau :

Khởi từ Ý thức con người khi quan sát ,cọ sát với vạn hữu đã và đang biến hoá hoá thànhgiống giống khác khác cần phân biện .

Nẩy sinh Ý định muốntượng hình hài thanh ( vẽ ranói hay viết ra ) để truyền thông .

Trụ thần để so sánh phạm vi , phân biện tình ý , so sánh cái cái giống cái hơi khác , nghiã là tìm cái Lý cho Sự Lý cần truyền đạt : đó là Ý Lý.

Ý Thức + Ý định = Ý Tưởng.

Ý Tưởng + Ý Lý = Danh Lý

Người học Dịch Lývì thế không bám chết vào Danh từ ,Ngôn Từ mà phải vượt trên nó để tìm Danh Lý của muôn vật . Hiểu chết nghiã mộtngôn từthì khó mà Cảm thông được với Thiên địavũ trụVô Hữu ; là tự dìm vào chốn mê lầm cố chấp .

Danh được gọi là Chí lý ( Danh Lý) phải có cái giống mà hơi khác nhau làm căn bản bổ nghiã cho nhau , ban nghiã lý cho nhau trong Cái NHẤT LÝ .

  • Câu trả lời tại sao ?
    • Chính vìThắc mắc và muốn thắc mắc đến tận cùng không bị khiêm cưỡng áp đặt nênngười có trí luôn luôn muốn tự mình truy tìm Chân lý.
    • Chân lý Không cần tìm ở đâu xa mà tìm ngay chính con người ; xử dụng hành trang tuyệt diệu nhấtlà chínhTrí Tri của mình: Trí Tri Ý Cơ Cấu .
    • Chính nhờ Trí Tri Ý Cơ Cấu Tiền Nhân đã Khám phá Lý Dịch ; neo ý Lý Dịch bắng Hình Đồ Thái cực Vô Tự Vô Thanh .
    • Hội Dịch Lý Việt Nam từ năm 1965 đã khai mở con đường để ai ai cũng có thể qua được ngưỡng cửa Dịch Lý . Một Kỷ Nguyên Mới của Văn Minh Việt Nam .
    • Xin các Bạn hữu duyên hãy liên lạc với chúng tôi .


VIỆT NAM DỊCH LÝ HỘI

Phân Hội Đức Quốc

vndichlyhoi@yahoo.com

Tagged with: